Thứ Hai, 2021-10-25, 10:43 AM
Welcome Guest | RSS

Dân Chủ Cho Việt Nam

Main » 2008 » Tháng Mười » 30 » Việt Nam có thể phải đối phó với tình trạng giảm phát
9:17 PM
Việt Nam có thể phải đối phó với tình trạng giảm phát
2008-10-30

Chỉ số giá tiêu dùng tại Việt Nam trong tháng 10 này xuống mức âm, dưới 0,2%, đưa đến dự báo của nhiều chuyên gia trong nước là Việt Nam có thể phải đối phó với tình trạng giảm phát trong thời gian tới.

AFP PHOTO/Hoang Dinh Nam

Lạm phát tăng cao, tăng trưởng giảm cùng với ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính thế giới, đang gây nhiều khó khăn cho thành phần lao động nhập cư.

Tuy nhiên, cũng có ý kiến không mấy đồng thuận với cảnh giác về tình trạng giảm phát- thiểu phát được đưa ra; Đó là ý kiến của Giáo Sư kinh tế Trần Nam Bình từ Đại Học New South Wales (Australia) trong cuộc trả lời phỏng vấn của Gia Minh sau đây.

Tại vì trong cái nền kinh tế Việt Nam, vấn đề giá cả là một vấn đề rất căn bản, cái vấn đề niềm tin của người tiêu thụ và vấn đề phúc lợi của công nhân, những người có thu nhập thấp rất là quan trọng, cho nên giá cả phải được giữ vững.

GS Trần Nam Bình

Đối với mức giảm chỉ số giá tiêu dùng tháng 10 thì Giáo Sư Trần Nam Bình có đánh giá:

Dấu hiệu tốt cho người thu nhập thấp

GS Trần Nam Bình: Chính phủ Việt Nam có đề xuất ra một số chính sách về tài chính và tiền tệ, thắt chặt lại tiền tệ và giảm một số chương trình lớn, cũng như là ảnh hưởng của kinh tế bên ngoài - kinh tế thế giới đang trên chiều đi xuống làm giảm phần cung mà do đó lạm phát nó không tăng trong mấy tháng vừa qua.

Gia Minh: Nó giảm như vậy thì nó mới có yếu tố tích cực hay là tiêu cực, thưa Giáo Sư?

GS Trần Nam Bình: Tôi nghĩ hiện nay vấn đề lạm phát rất là quan trọng, đặc biệt cho những người nghèo, tại vì những người có thu nhập thấp ở Việt Nam đang có rất nhiều vấn đề trong vấn đề sinh hoạt khi mà giá cả sinh hoạt tăng lên rất nhanh như vậy. Thành ra tuy là đình trệ của lạm phát do đà tăng trưởng kinh tế cũng có ảnh hưởng xấu nhưng mà nói chung tôi nghĩ đây là một điều tốt cho nền kinh tế Việt Nam hiện nay.

Gia Minh: Theo ý của Giáo Sư thì đó là tốt cho người làm công ăn lương, người có thu nhập thấp đó ạ?

GS Trần Nam Bình: Vâng. Đúng như vậy đó ạ. Tại vì trong cái nền kinh tế Việt Nam, vấn đề giá cả là một vấn đề rất căn bản, cái vấn đề niềm tin của người tiêu thụ và vấn đề phúc lợi của công nhân, những người có thu nhập thấp rất là quan trọng, cho nên giá cả phải được giữ vững.

Gia Minh: Nhưng mà trong khi đó với cái đà như thế này thì người ta lại e ngại đến cái tình hình giảm phát - thiểu phát, thưa Giáo Sư?

GS Trần Nam Bình: Tôi nghĩ cái giảm phát - thiểu phát là dịch từ deflation phải không ạ?

Gia Minh: Dạ vâng.

Giảm tăng trưởng

GS Trần Nam Bình: Thì tôi nghĩ Việt Nam chưa đến tình trạng deflation tại vì những cái dự án lớn của Việt Nam vẫn còn khá nhiều và tiền đầu tư nước ngoài cũng còn nhiều cho nên không lo tình hình thiểu phát. Nhưng mà dĩ nhiên tôi nghĩ vấn đề chính là mức độ tăng trưởng của Việt Nam sẽ thấp hơn, thấp hơn rất nhiều so với cái chỉ tiêu hiện nay của nhà nước.

lao-dong-305.jpg
Theo GS Trần Nam Bình, lạm phát giảm là một điều tốt cho những người có thu nhập thấp tại VN.

Gia Minh: Thì nhà nước cũng đã hạ xuống 7% rồi, Giáo Sư?

GS Trần Nam Bình: Xuống 7% cũng còn là con số rất là lạc quan, tôi không nghĩ là tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2008 sẽ đạt mức 7%. Tôi nghĩ là crisis (khủng hoảng) bên Mỹ và bên Châu Âu sẽ làm cho mức độ tăng trưởng Việt Nam giảm thấp hơn nữa. Tôi nghĩ vào khoảng 6% là thực tế hơn.

Gia Minh: Bây giờ người ta cũng nói đến các biện pháp như Giáo Sư có nói là những biện pháp về tín dụng và ngân hàng thì nó cũng có phát huy tác dụng và nó cũng giúp giảm bớt lạm phát, nhưng hiện nay người ta vẫn còn nhiều quan ngại trong sản xuất, xuất khẩu, rồi nhập khẩu, thưa Giáo Sư? Vậy thì phải làm thế nào để rồi có thể có được ổn định tương đối và có thể giúp cho giới làm công ăn lương và giới nghèo ở Việt Nam hiện nay ạ?

GS Trần Nam Bình: Khi mà chính phủ ra những biện pháp thắt chặt chính sách về tài chính có ảnh hưởng xấu thí dụ như là tiền lời lên cao cho nên làm cho vấn đề đầu tư sẽ bị ảnh hưởng xấu và trong những quốc gia như Việt Nam thì đầu tư rất là quan trọng.

Nói chung, theo tôi nghĩ, vấn đề của Việt Nam là lợi suất của những chương trình lớn chưa có cao. Nếu trong một quốc gia đang phát triển, thí dụ lấy trường hợp của Nam Hàn trước đây vài chục năm về trước thì lúc đó họ cũng bị lạm phát rất là cao nhưng mà đồng thời những cái tỷ suất sinh lợi của những dự án lớn của họ cũng rất cao cho nên nền kinh tế vẫn tiếp tục tăng trưởng.

Tôi thấy trường hợp Việt Nam, cái tỷ suất sinh lợi của các dự án lớn không có cao, ngược lại là khá thấp, nên tôi nghĩ cái đó là một vấn đề. Và tôi nghĩ thay vì những chính sách gọi là ngắn hạn để giải quyết cái này cái kia thì nhà nước nên tiếp tục chính sách dài hạn, trong đó vấn đề cổ phần hóa, vấn đề tư nhân hóa những doanh nghiệp công là vấn đề chính yếu hơn cả.

Cổ phần hóa, tư nhân hóa

Gia Minh: Nguyên nhân vì sao mà nó làm cho các công ty nhà nước ở Việt Nam hoạt động không hiệu quả, thưa Giáo Sư?

Ai cũng biết là tại vì theo những lý thuyết kinh tế rất là đơn giản thì là trong một tổ chức như vậy không có một động cơ hay không có một sự khuyến khích nào để họ giảm phí tổn hay tăng lợi nhuận, tại vì nếu mà có lỗ thì nhà nước cũng sẽ gánh chịu, vì vậy nguyên cớ làm việc của họ không có hiệu quả có thể đến từ những vấn đề khác tỷ dụ như vấn đề tham nhũng, vấn đề phí phạm công quỹ của nhà nước.

GS Trần Nam Bình

GS Trần Nam Bình: Khi tôi nói tỷ lệ sinh lợi không phải tôi nói quốc doanh không mà tôi nói ngay cả những chương trình lớn của nhà nước hay là những chương trình của tư nhân Việt Nam chứ không phải là chỉ có trong khu vực công, thì cái vấn đề tại sao những công ty quốc doanh có tỷ lệ sinh lợi thấp thì vấn đề đó thực sự là vấn đề chung.

Ai cũng biết là tại vì theo những lý thuyết kinh tế rất là đơn giản thì là trong một tổ chức như vậy không có một động cơ hay không có một sự khuyến khích nào để họ giảm phí tổn hay tăng lợi nhuận, tại vì nếu mà có lỗ thì nhà nước cũng sẽ gánh chịu, vì vậy nguyên cớ làm việc của họ không có hiệu quả có thể đến từ những vấn đề khác tỷ dụ như vấn đề tham nhũng, vấn đề phí phạm công quỹ của nhà nước.

Đây là vấn đề chung chứ không phải riêng của Việt Nam mà của quốc doanh trên thế giới. Dĩ nhiên chúng ta biết là khu vực tư có kiến hiệu nhưng với điều kiện là trong những tổ chức kinh tế đơn giản thì mọi người đều biết rằng là một nền kinh tế thị trường trong đó cung cầu chỉ có hiệu quả mang lại những lợi ích tối ưu nếu nó phản ánh được khan hiếm của xã hội.

Muốn như vậy thì những cái tín hiệu trên thị trường phải là những tín hiệu đúng và người tiêu thụ cũng như người sản xuất phải có đầy đủ kiến thức về nền kinh tế. Vấn đề là nhiều khi những tác nhân ở trong thị trường không đủ kiến thức và vấn đề gọi là speculation nó hơi cao.

Gia Minh: Và cái chuyện đầu cơ ở Việt Nam thì ra sao ạ?

GS Trần Nam Bình: Việt Nam thì cũng như là ở các nước khác, theo tôi hiểu là khi mà dân chúng có tiền họ để dành thì họ cũng để trong nhà băng hay họ phải giữ trong những cái dạng như nhà cửa hay là cổ phiếu, cổ phần, thì khi mà giá nhà hay giá cổ phiếu xuống thấp mà nhà băng cho mượn thế chấp rất là nhiều đối với các tài sản đó thì cũng có thể có những trở ngại.

Theo tôi hiểu thì cái thị trường chứng khoán ở Việt Nam không phát triển như thị trường chứng khoán bên Mỹ, thị trường địa ốc Việt Nam nó cũng không có những tục lệ giống như Mỹ cho nên cũng có thể có vấn đề, nhưng mà nó không đến cái tình trạng trầm trọng như bên Mỹ được.

Gia Minh: Thì ở Việt Nam nó là cái vấn đề cơ chế thì Giáo Sư thấy là cơ chế hiện nay cần có những cái gì trước mắt để giúp thoát ra cái tình trạng như khi nảy Giáo Sư nói đó là không hiệu quả cả ở khu vực công và cả khu vực tư ạ?

GS Trần Nam Bình: Về khu vực công thì tôi thấy vấn đề cổ phần hóa và tư nhân hóa là vấn đề đương nhiên. Và khi tôi nói cổ phần hóa, tư nhân hóa, tôi thực sự nghĩ là có sự thay đổi không những là về người chủ mà cũng như là người quản lý, những công ty quốc doanh đó nếu có sự thay đổi mà vẫn dùng quản lý cũ và vẫn liên hệ với chính quyền và những mối liên hệ cũ thì không có sự thay đổi thực sự, sự thay đổi đó cũng vô ích.

Còn về khu vực tư thì nhà nước phải quan tâm đến những luật lệ về vấn đề điều kiện nhà băng hơn. Thực sự thì Việt Nam bây giờ những luật lệ mà điều khiển cho những ngân hàng thì nó cũng nhiều rồi nên ý tôi nói là nhà nước cũng phải tiếp tục theo dõi những ngân hàng tư để tránh những trường hợp bị khủng hoảng liên hệ.

Gia Minh: Cảm ơn Giáo Sư về cuộc nói chuyện vừa rồi.

Category: Kinh tế | Views: 741 | Added by: danchu | Rating: 0.0/0
Total comments: 0
Only registered users can add comments.
[ Registration | Login ]
Login form
Search
Our poll
Đánh giá
Total of answers: 887
Site friends
Statistics

Đang online: 1
Khách: 1
Thành Viên: 0