Phạm Đình Trọng
“…
Một nhà nước luôn “bảo mật” với dân trong mọi việc dân cần được
biết, dân cần được bàn, dân cần kiểm tra, giám sát. Nay lại có thêm
một đường dây “bảo mật” nữa với dân! Dân chẳng còn gì để biết,
chẳng còn gì phải bận tâm, dân chỉ như đám con nít cho gì được
nấy, bảo sao nghe vậy!…”
Nhà văn không phải chỉ biết
trau chuốt câu văn đẹp, ngâm ngợi non nước mây trời, hể hả tán dương
cuộc đời. Nhà văn là trái tim đa cảm chia sẻ với những phận người trắc
trở, là cái đầu cả nghĩ luôn bận tâm những gì liên quan đến vận nước
thịnh suy. Đất đai ở biên cương đã và đang bị lấn, biển đảo ngay trước
thềm cửa nhà đã và đang bị mất! Làm sao không lo nghĩ!
Sau những hành động vừa ngấm ngầm lặng lẽ lấn chiếm, vừa ngang
nhiên, trắng trợn thôn tính đất đai biển trời của ta ở biên giới và
ngoài biển đông của nhà nước Trung Hoa; Sau những ngây thơ, hớ hênh, cả
tin gửi trứng cho ác, sau những nhu nhược nhượng bộ, ngậm ngùi chịu
thiệt thòi mất mát của nhà nước ta trước sự ngang ngược lấn tới của nhà
nước Trung Hoa thì mỗi lần lãnh đạo nhà nước ta đi sứ sang Trung Hoa,
người dân đều chăm chú theo dõi và phập phồng lo ngại. Lần này trong
tiết heo may cuối thu năm 2008 đầy khó khăn thử thách, Thủ tướng Nguyễn
Tấn Dũng nhà ta lại đi sứ sang Bắc Kinh. Nỗi lo lắng của người dân càng
to lớn, càng cụ thể khi trong các kí kết với nhà nước phương Bắc có một
kí kết bất thường: Kí hiệp định về đường dây thông tin bảo mật giữa các
nhà lãnh đạo hai nước!
Đường dây bảo mật này chính là đường dây nóng mà trong chuyến đi
sứ sang Đại Hán giữa năm nay của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, người đồng
cấp Hồ Cẩm Đào đã đặt ra đây! Đường dây này bất thường lắm, đáng băn
khoăn lắm vì:
Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, nhất là
trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cam go, khốc liệt, vận nước vô cùng
chênh vênh, hiểm nghèo và lúc ấy Trung Hoa còn giữ bộ mặt thân thiện,
chí cốt với ta. Lãnh tụ bên này nói Mối tình hữu nghị Việt – Hoa / Vừa
là đồng chí, vừa là anh em. Lãnh tụ bên kia nói Trung Hoa – Việt Nam
như răng với môi, môi hở răng lạnh. Nghệ sĩ hai nước thì hoà giọng ca:
Bên đây biên giới là mình / Bên kia biên giới cũng tình quê hương. Còn
những người lính chúng tôi ra trận đánh Mĩ thì càng thấy Trung Hoa xiết
bao gần gũi, thân thiết. Từ đôi dép cao su đúc đi dưới chân đến cái mũ
lá sen đội trên đầu, từ cái bi đông, túi thuốc cá nhân thắt bên sườn
đến khẩu súng AK đeo trên vai, cái máy thông tin cõng trên lưng, từ hạt
gạo ăn hàng ngày đến bánh lương khô, túi ruốc bông ăn khi lỡ bữa giữa
rừng... đều của Trung Hoa. Lúc đó chúng tôi vẫn đinh ninh rằng đó là sự
giúp đỡ cao cả vô tư của nhân dân Trung Hoa vĩ đại dành cho nhân dân
Việt Nam.
Mãi sau này tôi mới hiểu ra rằng đánh Mĩ bằng máu người Việt Nam và
bằng trang bị, vũ khí Trung Hoa, đó là phương thức làm cách mạng thế
giới của người Trung Hoa. Với phương thức đó thì họ còn cần ta nhiều
hơn là ta cần họ vì nếu không có vũ khí trang bị của Trung Hoa ta có
thể trông chờ ở các nước khác trong khối xã hội chủ nghĩa lúc đó còn
đông đảo, còn say lí tưởng quốc tế vô sản và còn mang mục tiêu chống
chủ nghĩa đế quốc! Nhưng chống chủ nghĩa đế quốc bằng xương máu, bằng
mạng sống của con người thì chỉ có nhân dân Việt Nam dám nhận lấy! Dù
sao vũ khí trang bị của Trung Hoa cũng vô cùng cần thiết cho ta trong
cuộc kháng chiến giữ nước. Ta cần họ và họ cũng cần ta. Cuộc chiến
tranh giữ nước của ta cũng là cuộc đối đầu phân định thắng bại của hai
ý thức hệ đối kháng phân chia thế giới mà ta và họ cùng trong một
ý thức hệ. Vì thế hai nước rất cần có sự phối hợp chặt chẽ từ những
hành động chiến thuật đến những ý đồ chiến lược, sách lược và những
thông tin đó đều vô cùng hệ trọng, có tính bảo mật rất cao. Thế mà lúc
đó đâu có cần đường dây nóng, đường dây bảo mật!
Trở về cuộc sống hòa bình, trở về bang giao hòa hiếu hữu
nghị đâu có còn những gấp gáp của cuộc chiến đđang diễn ra, đâu
có còn những bí mật quân sự! Hơn nữa, chiến tranh lạnh đã kết
thúc, không còn hai hệ tư tưởng đối kháng. Việt Nam mong muốn là
bạn của tất cả các nước. Thế giới bước vào thời kì cởi mở
và xã hội bước vào kỉ nguyên dân chủ công khai, mọi việc lớn
nhỏ của dân của nước, dân phải được biết, dân phải được bàn,
dân phải kiểm tra giám sát. Trong cuộc sống hòa bình, trong thế
giới cởi mở, trong xã hội dân chủ công khai, các nhà lãnh đạo
Việt Nam và Trung Hoa lập đường dây bảo mật làm gì vậy?
Trước những mưu đồ xảo trá của những tham vọng phương Bắc,
lãnh đạo ta đã nhiều lần hớ hênh, dại dột làm cho đất nước chịu
nhiều thiệt thòi, mất mát, làm cho nhân dân phải chịu nhiều cay
đắng, đau xót không bao giờ quên. Nay lại có thêm đường dây đi
đêm riêng tư, lành ít dữ nhiều, rồi điều gì sẽ xảy ra?
Còn nhớ năm 1955, miền Bắc vừa được giải phóng, cả miền
Bắc đang thất nghiệp, sức người thừa thãi nhưng lãnh đạo nhà
nước ta vẫn chấp nhận cho công nhân đường sắt Trung Hoa vào Việt
Nam giúp ta khôi phục đường sắt Lạng Sơn – Hà Nội và công nhân
đường sắt Trung Hoa đã đưa điểm nối giữa đường sắt Việt Nam với
đường sắt Trung Hoa vào sâu lãnh thổ nước ta, cách xa đường biên
giới tới 300 mét và ta cứ ngây thơ im lặng! Mãi đến khi quân Mĩ
rút khỏi Việt Nam tháng 3 năm 1973 thì ngay lập tức tháng 1 năm
1974 Trung Hoa liền cất quân đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa
từ tay quân đội Sài Gòn! Đến lúc đó lãnh đạo ta mới giật mình
nhận ra nỗi thèm khát của “chiếc răng Trung Hoa” (Trung Việt như
răng với môi mà) Lại chột dạ nhớ những gì đã diễn ra trước đây
ở biên giới phía Bắc! Đắn đo, lúng túng mãi, đến ngày cuối
cùng năm ấy, 31 tháng 12 năm 1974, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa mới dè dặt đề nghị Chính phủ Trung Hoa giao cho ngành
đường sắt hai nước điều chỉnh chỗ nối đường sắt Việt – Trung theo
đúng đường biên giới lịch sử. Tất nhiên, Trung Hoa không thiếu gì
cớ từ chối: Các đồng chí cứ tập trung vào sự nghiệp giải phóng
miền Nam. Điểm nối đường sắt hai nước không có gì quan trọng.
Trung – Việt sẽ còn ngồi lại với nhau phân định lại cả tuyến biên
giới lịch sử. Đến lúc đó sẽ xem xét luôn! Nhưng khi hai nước
đàm phán về biên giới thì họ lại lí sự: Không thể có đường
sắt nước này lại đặt trên lãnh thổ nước khác! Vì thế điểm nối
hai đường sắt chính là điểm phân ranh hai nước!
Có đủ chứng cứ từ lịch sử lâu đời, có công ước phân
định biên giới Việt – Hoa giữa người Pháp và nhà Thanh, có bản
đồ biên giới Việt - Trung của người Pháp để lại, có sự thật lịch
sử chỗ nối đường sắt đo do công nhân Trung Hoa đặt... nhiều lắm
những chứng cứ xác định đúng đường biên giới lịch sử nhưng những
người quản lí quốc gia của ta đã không đủ lòng yêu nước và bản
lĩnh để đi đến cùng sự thật, họ đã bình thản buông xuôi để mất đất
đai thiêng liêng của tổ tiên rồi lặng lẽ trước nhân dân, trước
lịch sử và quanh co trước dư luận!
Cũng năm 1955 Việt Nam còn nhờ Trung Hoa in lại bản đồ Việt
Nam tỉ lệ 1/100 000. Không có biên bản giao kèo và những qui định
về nội dung in ấn. Không kiểm tra, nghiệm thu thành phẩm. Không xác
định bản đồ gốc đối chiếu để từ chối khi bản đồ in lại không đúng
với bản đồ gốc thì không có giá trị, không chấp nhận. Họ in sao
ta nhận vậy! Bản đồ Việt Nam của Pháp để lại vẽ theo công ước phân
định biên giới Việt – Hoa đã được hai nước Pháp, Hoa công nhận năm
1897 thì thác Bản Giốc thuộc xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh,
tỉnh Cao Bằng ở phía nam đường biên giới tới 2 kilomet. Nhưng
bản đồ Trung Hoa in giúp ta, đường biên giới cắt đôi thác Bản
Giốc! Bước một khó khăn nhất là lấn đất trên bản đồ đã được thực
hiện đàng hoàng, dễ dàng, mau lẹ! Bước hai chỉ còn việc chiếu
theo bản đồ vạch đường biên giới trên thực tế. Ngày 29 tháng 2
năm 1976 họ bất ngờ huy động 2 000 quân mặc đồ dân sự tràn sang
đất ta bao vây toàn bộ thác Bản Giốc, che chắn cho kíp thợ gấp
rút đổ bê tông phân ranh cắt ngang thác, ngang nhiên nhận một phần
thác Bản Giốc của ta là của họ! Mới đây, nhân khai trương điểm
du lịch mới sát biên giới ta, thác Đức Thiên, Đệ nhất hùng quan
Nam Trung Hoa, họ mời một đoàn nhà báo ta sang dự. Đến nơi, các
nhà báo Việt Nam cay đắng nhận ra Đệ nhất hùng quan Nam Trung Hoa,
thác Đức Thiên chính là phần đẹp nhất của thác Bản Giốc của ta!
Đất đai trên đất liền bị mất mát hao hụt ở từng điểm tính
bằng kilomet vuông, trên cả dải biên giới lên tới hàng trăm kilomet
vuông! Lớn lắm! Nhưng cũng chưa thấm tháp gì so với những con số
hàng trăm nghìn kilomet vuông biển trời bị mất ngoài thềm cửa
phía đông nước ta!
Đất đai là xương máu, hồn cốt cha ông bị mất mát lớn như thế
nhưng đến nay Quốc hội cũng không được báo cáo, không được biết sự
thật! Người dân lại càng không được biết! Để tiêu hóa phần đất chiếm
được của ta, nhà nước phương Bắc liền đưa phần đất đó vào đơn vị
hành chính quận, huyện của họ! Đến lúc đó sinh viên ta mới biết
đất đai của ta đã trở thành quận huyện Trung Hoa! Lòng yêu nước đã
tập hợp sinh viên ta lại biểu lộ ý chí khẳng định chủ quyền Việt
Nam ở những phần đất bị chiếm. Đó là việc rất cần thiết khởi đầu cho
quá trình đòi lại đất bị mất. Cấm không cho sinh viên bộc lộ ý chí
khẳng định chủ quyền Việt Nam ở những phần đất bị mất là nhà nước
ta không có ý định đòi lại những phần đất đó sao? Làm sao người
dân có yên tâm về một nhà nước như thế và về những người giữ
trọng trách của nhà nước đó!
Một nhà nước luôn “bảo mật” với dân trong mọi việc dân cần
được biết, dân cần được bàn, dân cần kiểm tra, giám sát. Nay lại có
thêm một đường dây “bảo mật” nữa với dân! Dân chẳng còn gì để
biết, chẳng còn gì phải bận tâm, dân chỉ như đám con nít cho gì
được nấy, bảo sao nghe vậy!
Trong mối quan hệ với nước láng giềng, nhân dân Việt Nam luôn
phải nhận thua thiệt, mất mát, cay đắng, tủi nhục. Nay trong mối
quan hệ ấy lại có thêm một đường dây “bảo mật” nữa với dân! Rồi
điều gì sẽ đến và đường dây “bảo mật” ấy cần cho ai?
Thời thế giới còn phân chia hai lực lượng thù địch trong hai
hệ tư tưởng đối kháng, Việt Nam cùng trong hệ tư tưởng xã hội chủ
nghĩa với nước lớn Trung Hoa và những nhà cách mạng Việt Nam
đều tâm niệm học thuyết Mao ít, đều bị cái vòng kim cơ tư tưởng
Mao Trạch Đông thít trên đầu và họ đã hăng hái tiến hành cải
cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp, đã lạnh lùng thực
hiện những vụ việc tàn bạo như vụ Nhân văn Giai phẩm, vụ Xét
lại chống đảng, gây tai họa lớn cho đất nước, cho nhân dân, còn để
lại hậu quả đến hôm nay. Bước vào thời kì mới, Việt Nam cần hội
nhập với thế giới, cần mở rộng hợp tác làm ăn với tất cả các
nước, nhất là với những nước có nền kinh tế phát triển, có
trình độ khoa học kĩ thuật cao, có công nghệ hiện đại như nước Mĩ
và các nước công nghiệp phương Tây.
Muốn thật sự hội nhập, tiếp cận và đón nhận vốn liếng, công nghệ và
cung cách làm ăn lớn, hiệu quả, chúng ta phải là chúng ta, là
con người Việt Nam thông minh, sáng tạo, là khí phách Việt Nam
hiên ngang, tự tin, tự chủ. Thực tế cho thấy cái vòng kim cơ tư
tưởng Mao Trạch Đông còn hằn sâu trong tư duy không ít nhà cách
mạng Việt Nam, trở thành sự giằng co, níu kéo sự phát triển
của đất nước, làm mất tư thế tự tin, tự chủ và hiên ngang của
đất nước. Đó là một sợi dây đang trói buộc chúng ta! Thực tế cũng
cho thấy, với tư tưởng Đại Hán, nước lớn Trung Hoa không muốn những
nước nhỏ quanh họ phát triển để mãi mãi phụ thuộc vào họ, mãi mãi bị
cột chặt vào họ. Và có phải đường dây bảo mật kia là lại thêm một đường
dây cụ thể để họ cột chúng ta vào với họ? Phạm Đình Trọng
|